Wednesday, October 26, 2011

Chúng ta thoát thai từ đâu ?


CHUNGTA THOAT THAI TU DAU.jpgPhần 1
Hình học nhãn khoa - Phương pháp mới trong nghiên cứu vấn đề nguồn gốc loài người..

Tóm lại, chúng tôi đã tìm được trong các đường nét chung về nguyên lý phục chế khuôn mặt dựa vào các đặc trưng hình học của mắt.

Sau này trên cơ sở số liệu của 1500 cá nhân, các nguyên lý tái tạo lại khuôn mặt dựa vào các đặc trưng hình học của hai hình tứ giác đã được xác định rõ thêm. Song không thể đạt được độ chính xác lớn hơn. Vì sao vậy ? Vấn đề là ở chỗ chúng tôi mới xác định được 22 đặc trưng hình học nhãn khoa trong khi các hình tứ giác nêu trên chỉ thể hiện được 2 trong số đó. Nhưng việc cùng một lúc phân tích tất cả 22 thông số quá phức tạp, chúng tôi đã không kham nổi.

Hơn nữa, tất cả 22 thông số đó thường xuyên thay đổi tùy thuộc vào xúc cảm, tâm trạng con người, bệnh tật và các yếu tố khác.



Các hạnh nhỏ dưới vỏ não của con người có sức tính toán lớn biết chừng nào khi xử lý các thông tin hình học nhãn khoa ! Bởi chúng phải có khả năng xử lý loại thông tin cực kỳ phức tạp đó trong nháy mắt và truyền vào vỏ đại não dưới dạng các hình ảnh, cảm giác và tình cảm khác, mặc dù kích thước các hạch não đó (gần 1 cm) không thể so sánh với kích thước một chiếc máy tính hiện đại. Chúa Trời thật vĩ đại. Người đã tạo ra bộ não hoàn chỉnh như một cỗ máy !



Còn chúng tôi chỉ xử lý về mặt toán học được 2 trong số 22 thông số hiện hữu ! Nhưng thành quả toán học nhỏ bé đó cũng đã cho phép chúng tôi khá vững tin mà nói rằng, các thông số hình học nhãn khoa của mỗi người mang tính cá thể nghiêm ngặt và là cái gì đó tựa như “vết bớt”. “Vết bớt” hình học nhãn khoa đó thường xuyên thay đổi, tuỳ thuộc vào cảm xúc và các yếu tố khác, song về đại thể vẫn giữ được tính chất cá thể bẩm sinh.

Đồng thời các thông số hình học nhãn khoa cá thể gắn liền với các đặc trưng hình học của đường nét khuôn mặt và thậm chí một vài bộ phận cơ thể. Bởi vậy, có thể tái tạo hình dạng người trong giới hạn phỏng chừng dựa trên các đặc trưng hình học của khu vực mắt. Chính vì thế, khi nhìn vào mắt người khác, ta biết nhiều điều hơn chứ không chỉ có đôi mắt. Và cuối cùng : hằng số duy nhất của cơ thể con người là đường kính giác mạc, nằm trong phạm vi sơ đồ hình học nhãn khoa như thể gợi ý với ta rằng, đó chính là đơn vị đo lường trong hình học nhãn khoa.

Đôi mắt phản ánh gần như tất cả những gì diễn ra trong cơ thể và trong não và có thể nhìn thấy cái “tất cả” đó dựa vào sự biến đổi của 22 (mà biết đâu lại nhiều hơn vậy) thông số của khu vực mắt. Tất nhiên, trong tương lai, hình học nhãn khoa sẽ được nghiên cứu đến nơi đến chốn và giải đáp được nhiều câu hỏi của y học và tâm lý học. Nói một cách có hình tượng thì hình học nhãn khoa là hình ảnh toán học của các tình cảm và cảm giác.

Ánh mắt hoạt động như tia quét xóa lượng thông tin ở khu vực mắt, nơi mà nhờ các chuyển động vô cùng nhỏ của mí mắt, lông mày, nhãn cầu và da, phản ánh tình cảm và cảm giác của chúng ta đồng thời nhận biết được cá tính mỗi con người. Chúng ta nhìn vào mắt nhau bởi đôi mắt cung cấp thêm thông tin cho ta về cá nhân con người và các biến đổi của nó do tác động của các tình cảm, cảm giác.

Các phương pháp ứng dụng hình học nhãn khoa.

Có thể phân ra các phương pháp ứng dụng thực tế của hình học nhãn khoa: đồng nhất cá thể (giống như vân tay người), tái tạo hình dáng người, xác định đặc điểm trí tuệ cá nhân, phân tích khách quan tình cảm và cảm giác con người, chuẩn đoán các bệnh tâm thần, xác định dân tộc và … nghiên cứu nguồn gốc loài người.

Chú thích : đường kính giác mạc dường như không hề thay đổi, dù là người Âu, người Á, dù già hay trẻ, thì kích thước đường kính không thay đổi. Có vẻ đó là 1 hằng số của nhân loại.

Giới thiệu tác giả

Ernst Muldashev là tiến sĩ y học, giáo sư, Giáo đốc trung tâm phẫu thuật mắt và tạo hình Liên Bang Nga của Bộ Y tế Nga, thầy thuốc Công Huân, huy chương “Vì những cống hiến cho ngành y tế nước nhà”, nhà phẫu thuật thượng hạng, nhà tư vấn danh dự của Đại học Tổng Hợp Lu-In-Svin (Mỹ), viện sĩ Viện Hàn Lâm nhãn khoa Mỹ, bác sĩ nhãn khoa có bằng của Mê-hi-cô, kiện tướng môn du lịch thể thao, ba lần kiện tướng Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội chủ nghĩa Xô Viết.

Ernst Muldashev là nhà bác học lớn có tên tuổi trên trường quốc tế… Ông là người khai sáng phương hướng mới trong y học - phẫu thuật tái sinh (tức phẫu thuật “cấy ghép” mô người). Ông là người đầu tiên trên thế giới tiến hành phẫu thuật cấy ghép mắt thành công. Hiện nay ông đang nghiên cứu những cơ sở của phẫu thuật tái sinh hàng loạt các bộ phận cơ thể người.

Nhà bác học đã nghiên cứu 90 loại phẫu thuật mới, sáng chế và đưa vào ứng dụng 60 loại nguyên liệu sinh học alloplant, được đăng trên 300 công trình khoa học, nhận 56 bằng sáng chế của Nga và nhiều nước khác trên thế giới. Đi thỉnh giảng và phẫu thuật trên 40 nước. Hàng năm giải phẫu từ 600 đến 800 ca phức tạp nhất.

Ernst Muldashev thú nhận rằng cho đến giờ ông vẫn chưa hiểu hết thực chất của sáng chế chủ yếu của mình là nguyên liệu sinh học “Allpolant” được chế tạo từ mô người chết mang trong mình nó những cơ cấu tự nhiên cao sâu trong việc sáng tạo cơ thể con người, vì thế trong quá trình nghiên cứu ông không chỉ tiếp xúc với các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực (vật lý học, sinh học phân tử, …) mà còn tìm hiểu cơ sở của các tín ngưỡng tôn giáo và huyền học, nghiên cứu năng lượng tâm thần và những vấn đề liên quan đến nguồn gốc loài người và vũ trụ.

4 Comments:

Anonymous said...

Tác giả lý giải sự thống nhất của những nguyên lý cơ bản trong các tôn giáo rất khác, sự đồng nhất trong tư duy của các tộc người rất khác nhau trên thế giới - đó là tiếng mạch ngầm của Thế giới kia, của Trí tuệ Tồi thượng. Và điều quan trọng nhất, xuyên suốt các tư tưởng Trí tuệ tối thượng với mọi nền văn minh là:

* giương cao ngọn cờ nhân ái
* kêu gọi con người hãy làm việc để tích luỹ tri thức
* sống yêu thương, đồng cảm lẫn nhau
* trừng phạt tội ác
* quên mình cho lý tưởng nhân bản

Le Ngoc Anh Thu said...

Đọc thêm ở đây :

http://www.wattpad.com/295615-ch%C3%BAng-ta-tho%C3%A1t-thai-t%E1%BB%AB-%C4%91%C3%A2u-ph%E1%BA%A7n-1

Anonymous said...

Kẻ tu hành phải có con mắt trạch pháp ("Trạch Pháp nhãn" hay "Dharma-selecting vision"), mới có thể chọn lựa thứ gì là chánh pháp, thứ gì là tà pháp. Chánh pháp la?hông tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối. Ðây là sáu đại tông chỉ, người tu Ðạo noi theo sẽ có được chánh tri và chánh kiến. Ngược lại, tà pháp chính là tranh, tham, cầu, ích kỷ, tự lợi, nói dối. Nếu có sáu thứ đó thì sẽ có tà tri tà kiến. Ðây là điểm then chốt, là đường phân ranh giữa hai phía, hướng tới phía trước là Chánh pháp, về phía sau là tà pháp. Chúng ta phải nhận cho rõ điểm này.

Giả như không có tà tri tà kiến thì chỉ cần giữ định lực kiên cố, ma vương sẽ không có cách gì quấy phá ta, không thể làm cho tâm ta lay động. Có câu rằng: "Phật đến giết Phật, ma đến giết ma". Câu này là nghĩa thế nào? Ðây chỉ là lời khuyên ta không nên quá chấp vào cảnh giới. Thấy Phật đến mà cũng không tiếp nhận hình ảnh này, huống chi là thấy ma! Tuy rằng trong nhiều trường hợp các cảnh giới đó là những tin báo trước, rất linh ứng, nhưng chúng ta cũng không nên tin vào. Ðiều mà chúng ta cần tin tưởng chính là sáu đại tông chỉ, chẳng tranh, chẳng tham, chẳng cầu, chẳng ích kỷ, chẳng tự lợi, chẳng nói dối. Ðó chính là lưỡi gươm chém ma, cái chầy hàng phục ma vậy.

Như có đủ chánh tri chánh kiến thì dầu có được chư thiên hiện thân đến cúng dường, và cung kính khấu đầu, người tu cũng không động tâm. Rủi có sự động tâm hay sanh tâm hoan hỷ, thì loại ma hoan hỷ sẽ thừa cơ đến phá, làm người tu phát cuồng. Rủi có tâm u sầu thì loại ma u sầu sẽ đến làm cho tâm nhiễm phiền não, hoặc có khi sanh tâm chấp trước, tâm ngã mạn. Tất cả những thứ đó đều do ma quấy phá, khiến cho tâm mất sự thanh tịnh.

Bởi vậy cho nên hễ gặp bất cứ loại cảnh giới kỳ quặc nào, người tu cũng không nên tin, không để cho tâm động. Chỉ nên tin vào trí huệ của mình, tin rằng tự tánh có thể sanh ra vạn pháp, tự tánh bổn lai là thanh tịnh, bổn lai không bị nhiễm ô, bổn lai không điên đảo. Như vậy thì còn cái gì để mong cầu nữa? Phàm có sự cầu mong là có sự nhiễm ô; có tranh, có tham, có ích kỷ, có tự lợi, có nói dối tức là có nhiễm ô. Gặp bất cứ pháp nào chúng ta đều có thể lấy sáu tông chỉ lớn đó làm thước đo, để quan sát, thứ nào hợp là Chánh pháp, thứ nào không hợp là tà pháp.

http://a3.sphotos.ak.fbcdn.net/hphotos-ak-ash3/c0.140.403.403/p403x403/564958_311515595589907_2143190585_n.jpg

Anonymous said...

Sáu đại tông chỉ có thể phá tà tri tà kiến của thiên ma ngoại đạo. Tất cả những hành vi tạo tác của thiên ma ngoại đạo đều có tính cách sở cầu, chủ ý để tranh, tham, cầu, ích kỷ, tự lợi, nói dối, cho chính mình chẳng phải cho tha nhân. Ðó là những tư tưởng thuộc về hàng bàng môn tả đạo.

Người tu Ðạo phải tích lũy công, bồi đắp đức hạnh, nhưng không được chấp trước những điều đã thực hiện, như câu thường nói: "quét sách mọi pháp, ly hết mọi tướng", chớ không thể nói rằng: "Tôi làm công đức này, tôi tu hành như thế kia" hay nói: "Tôi đã đạt tới cảnh giới này, tôi có pháp thần thông kia". Cho rằng có những thứ đó, nhưng xét kỹ chúng đều là hư dối, không nên tin, không thể bị mắc vào. Nếu tin vào nhưng điều kỳ dị, những pháp thần thông thì người tu không thể vào được chánh định, chánh thọ (tức Tam-muội). Nên hiểu rằng chánh định, chánh thọ không phải từ bên ngoài mà có được, nó phải từ trong tự tánh mà sanh ra. Bằng cách nào người tu đạt được? Ðó là do công phu hồi quang phản chiếu, quay lại nơi mình (phản cầu chư kỷ), chánh định chánh thọ mới thành tựu được.

Vạn Phật Thánh Thành là nơi tụ hội của muôn vạn bậc thánh. Tuy nhiên bốn phía xung quang Thành lại có những ma vương đương chờ cơ hội để nhập vào. Nếu như người tu mà tâm không thanh tịnh, trong đầu chỉ toàn là vọng tưởng thì ma vương sẽ thừa cơ lẻn đến xúi bẩy, tỷ dụ như chúng làm cho người tu tiên đoán chuyện này chuyện nọ. Nếu người tu lại tin rằng đó là thần thông mình đạt được, thì chính người đó đã bị cho vào tròng, thành kẻ quyến thuộc của Ma vương.

Cũng như khi nghe được một thanh âm nào, quý vị đã vội cho rằng đó là lời trong hư không. Thật ra hư không chẳng có tiếng nói, mà phải biết rằng: "lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng tâm theo duyên". Giả tỷ nghe thấy thanh âm của hư không, đó chỉ là cảnh giới ma chớ không phải do "Ðại Viên Kính Trí" mang lại. Có xá gì một chút tin tức nhỏ nhoi không đáng kể!

Tâm tư của người tu phải thanh tịnh. Chớ tham cầu khả năng dự tri. Dự tri chẳng mang lại điều gì hay mà ngược lại chỉ gây thêm phiền phức, khiến cho chúng ta phân tâm, không tập trung được tinh thần, do đó vọng tưởng sẽ rối bời và phiền não thêm chồng chất. Nếu chẳng có dự tri, quý vị sẽ không có phiền não, tâm không bị chướng ngại. Tâm Kinh có nói: "Bởi không chướng ngại, nên không sợ hãi, ly hết mọi mộng tưởng điên đảo, Niết-bàn cứu cánh". Ðây mới chính là mục tiêu của hành giả trên con đường tu Ðạo.

Post a Comment

Bạn có ý kiến về vấn đề này như thế nào?
(What do you think about it?/ Qu'en pensez-vous?)

Cảm ơn các bạn đã ghé thăm blog mình (✿ ♥‿♥)(♥‿♥ ✿)

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More